TRANG CHỦ GIỚI THIỆU DỊCH VỤ CUNG CẤP VĂN BẢN PHÁP LUẬT CHUẨN MỰC KẾ TOÁN KIỂM TOÁN TIN TỨC TIN NỘI BỘ LIÊN HỆ TUYỂN DỤNG
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
0988.959.819
0906.669.684
0984.105.072
CẬP NHẬT THÔNG TIN NỔI BẬT
Xác định “ngưỡng doanh thu” để được nộp thuế theo phương pháp khấu trừ  
Quy định về ngưỡng đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng và phương pháp tính thuế  
Chuyện từ con số tăng trưởng tín dụng năm 2014  
TIẾP TỤC DUY TRÌ VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN VIỆT NAM PHÙ HỢP VỚI THÔNG LỆ VÀ CHUẨN MỰC QUỐC TẾ MỚI NHẤT (Kỳ I)  
Tín dụng chật vật hướng mốc tăng trưởng 12%  
THỐNG KÊ
Online: 50 | Lượt truy cập: 136022
LIÊN KẾT WEB
Tin tức
Tin tức mới
EmailIn trang

TIẾP TỤC DUY TRÌ VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN VIỆT NAM

 PHÙ HỢP VỚI THÔNG LỆ VÀ CHUẨN MỰC QUỐC TẾ MỚI NHẤT (Kỳ I)

 

Bùi Văn Mai – CPA VN, FCPA

Phó Chủ tịch thường trực VACPA

 

BGBFJU094609
 Ông Bùi Văn Mai
I.      Quá trình ra đời và phát triển hệ thống kế toán, kiểm toán Việt Nam

Kế toán là công cụ quản lý và phản ánh bằng giá trị mọi hoạt động kinh tế, tài chính của mọi chế độ, xã hội. Khi hoạt động xã hội và hoạt động sản xuất – kinh doanh phát triển đến mức có từ 2 người trở lên làm ăn chung thì đã cần có hoạt động kế toán, tài chính.

Ở Việt Nam, ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, mọi hoạt động của Nhà nước Việt Nam non trẻ đã được phản ánh  bằng công cụ Kế toán giản đơn. Cùng với sự phát triển của cách mạng, hoạt động kinh tế, tài chính của đất nước đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Hoạt động kế toán cũng từ chỗ giản đơn, ghi chép nhật ký thu chi, sau là ghi sổ kép và kế toán trên phần mềm như hiện nay.

Trước những năm 1970, Hệ thống Kế toán Việt Nam về cơ bản làm theo hệ thống kế toán của Trung Quốc với các hình thức sổ Nhật ký chung, Nhật ký Sổ Cái, Chứng từ ghi sổ.

Từ năm 1970 đến năm 1990, Hệ thống Kế toán Việt Nam được chuyển đổi theo hệ thống kế toán của Liên Xô cũ với các hình thức ghi sổ là Nhật ký - Chứng từ, Phương pháp số dư, Hệ thống Tài khoản Kế toán thống nhất…

Sau năm 1986, với đường lối đổi mới, mở cửa, hội nhập theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước, Việt Nam bắt đầu tiếp cận với thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế bằng việc ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp (Quyết định số 1141TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995).

Từ năm 2000 đến nay là giai đoạn phát triển, đổi mới căn bản Hệ thống Kế toán Việt Nam, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Đó là Hệ thống Kế toán theo Chuẩn mực kế toán quốc tế do Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC) công bố - là hệ thống kế toán được thừa nhận và áp dụng ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường. Phù hợp với đường lối đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, hợp tác, kêu gọi đầu tư của tất cả các nước, Việt Nam cũng đổi mới hệ thống kế toán theo hệ thống được nhiều nước thừa nhận nhất để tạo điều kiện dễ hiểu biết lẫn nhau và có thể so sánh…

Thế giới đang đổi mới hàng ngày, hệ thống kế toán quốc tế cũng đang trong thời kỳ đổi mới sang Hệ thống Chuẩn mực lập và trình bày Báo cáo tài chính (IFRS). Việt Nam hiện cũng đang tiếp tục sửa đổi, bổ sung mới các chuẩn mực kế toán đã ban hành từ năm 2000 đến 2006 sang Hệ thống Chuẩn mực lập và trình bày Báo cáo tài chính quốc tế.

Về hệ thống kiểm toán độc lập của Việt Nam ra đời rất chậm so với quốc tế. Nếu như thế giới đã có Hệ thống kiểm toán từ hơn 100 năm thì Việt Nam mới có từ năm 1991, khởi đầu bằng việc Bộ Tài chính quyết định thành lập 2 công ty dịch vụ kế toán và dịch vụ kiểm toán đầu tiên vào ngày 13/5/1991, đó là Công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) nay là Deloitte Việt Nam và Công ty dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán và kiểm toán AASC. Đến nay Hệ thống kiểm toán độc lập của Việt Nam mới phát triển được 22 năm.

BGBFJU094609
 

Tiếp theo ngày 11/7/1994, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 70/CP thành lập cơ quan Kiểm toán Nhà nước, là hệ thống kiểm toán thuộc bộ máy quản lý Nhà nước, thực hiện kiểm tra, kiểm toán các đơn vị sử dụng và quản lý ngân sách Nhà nước và tài sản Nhà nước.

Hệ thống kiểm toán nội bộ ra đời muộn nhất, vào ngày 28/10/1997 bằng việc Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 832TC/Q Đ/C ĐKT, ban hành Quy chế kiểm toán nội bộ, là tổ chức kiểm toán của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng hoặc hoạt động phức tạp cần có bộ phận kiểm toán nội bộ giúp người đứng đầu tổ chức kiểm tra xác nhận chất lượng thông tin kinh tế, tài chính nội bộ đơn vị, tập đoàn.

II.        Hiện trạng hoạt động kế toán, kiểm toán tại Việt Nam

1.    Thực trạng về hoạt động kế toán

Về cơ chế chính sách, hệ thống kế toán của Việt Nam đã khá phát triển, thể hiện bằng việc cơ quan Nhà nước đã ban hành, công bố nhiều văn bản pháp luật làm cơ sở đào tạo đội ngũ cán bộ kế toán, làm cơ sở tổ chức công việc kế toán ở mọi tổ chức và doanh nghiệp, làm cơ sở kiểm tra, giám sát chất lượng thông tin tài chính để công khai, minh bạch tài chính doanh nghiệp cũng như tài chính Nhà nước. Cụ thể, hệ thống văn bản hiện hành có:

-        Luật Kế toán công bố năm 2003, quy định những nội dung cơ bản về kế toán như đối tượng và nhiệm vụ kế toán, các nguyên tắc kế toán cơ bản, chữ viết, chữ số, tiêu chuẩn, điều kiện người làm kế toán, người hành nghề dịch vụ kế toán, các nội dung kế toán cơ bản, và những điều nghiêm cấm…

-        Các nghị định và thông tư hướng dẫn kế toán trong cơ quan Nhà nước, trong lĩnh vực doanh nghiệp và xử lý vi phạm hành chính về kế toán ban hành từ năm 2003 đến 2004.

-        Bộ Tài chính công bố 26 Chuẩn mực kế toán Việt Nam phù hợp với Chuẩn mực kế toán quốc tế từ năm 2000 đến 2005; ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp mới phù hợp với Luật Kế toán và các Chuẩn mực kế toán (QĐ 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006), Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ (QĐ 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006).

Tiếp theo đó, Bộ Tài chính đã chấp thuận cho nhiều Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước ban hành các tài liệu hướng dẫn áp dụng Chuẩn mực kế toán, Chế độ kế toán nói trên vào ngành, như Dầu khí, Điện lực, Than khoáng sản, Xây dựng…

Về tổ chức quản lý kế toán, Bộ Tài chính là cơ quan Nhà nước thực hiện chức năng quản lý toàn diện và trực tiếp mọi hoạt động kế toán trong xã hội, có nhiệm vụ trình Chính phủ, Quốc hội ban hành hoặc trực tiếp ban hành các chính sách về kế toán; Chỉ đạo thực hiện, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật kế toán và xử lý các vi phạm… Ngoài ra, ở Việt Nam đã hình thành Hiệp hội ngành nghề kế toán là câu lạc bộ kế toán trưởng thành lập ngày 16/5/1989 tại Quyết định số 79 TC/QĐ-CĐKT của Bộ Tài chính; ngày 10/01/1994 tại Quyết định số 12/TTg của Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập Hội Kế toán Việt Nam; đến năm 1998 đổi tên thành Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nâm (VAA). Đây là các tổ chức xã hội nghề nghiệp, tập hợp những người làm kế toán tại các doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và các KTV nội bộ, KTV Nhà nước để trao đổi thông tin nghề nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn và tham gia xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước về kế toán, kiểm toán, hỗ trợ Bộ Tài chính duy trì và phát triển hoạt động kế toán Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế, hướng đến mục tiêu được quốc tế thừa nhận và góp phần công khai, minh bạch thông tin tài chính Nhà nước và doanh nghiệp.

Về phương pháp kế toán căn bản, Việt Nam đã áp dụng gần đầy đủ chuẩn mực kế toán quốc tế, trừ nguyên tắc giá thị trường (giá thực tế, giá có thể thực hiện) và chuẩn mực về công cụ tài chính, công cụ tài chính phái sinh là chưa được công bố chính thức, dù rằng trong thực tế đã có ít nhiều DN áp dụng.

BGBFJU094609
 
Về thực trạng hoạt động kế toán, cho dù vẫn còn khoảng cách giữa chính sách và thực tế, nhưng cũng phải tự hào rằng hệ thống kế toán Việt Nam đã phát triển khá nhanh. Từ chỗ chủ yếu ghi chép kế toán bằng thủ công, nay có đến 90% công việc kế toán đã được thực hiện tự động hóa hoặc bán tự động trên các phần mềm kế toán trên hệ thống vi tính. Số liệu tổng hợp kế toán, lập BCTC hàng năm, nếu trước đây phải mất 6 tháng đến 9 tháng, nay chỉ là 30 ngày đến 90 ngày đã được công khai rộng rãi.

2.    Thực trạng về hoạt động kiểm toán

Về cơ chế chính sách, Hệ thống kiểm toán độc lập đã khá đầy đủ và phù hợp thông lệ quốc tế, thể hiện bằng việc cơ quan Nhà nước đã công bố khá đầy đủ các văn bản pháp luật cần thiết, như:

-   Luật Kiểm toán độc lập (KTĐL) công bố năm 2011, quy định các nội dung cơ bản về tiêu chuẩn, điều kiện người hành nghề KTĐL, DN kiểm toán, đơn vị được kiểm toán, hoạt động kiểm toán độc lập đối với DN, tổ chức, đơn vị có lợi ích công chúng, các phương pháp kiểm toán căn bản, kiểm soát chất lượng (KSCL) và xử lý sai phạm…

-   Các nghị định và thông tư hướng dẫn thực hiện kiểm toán độc lập trong các DN, cơ quan quản lý Nhà nước và trách nhiệm của các tổ chức nghề nghiệp hỗ trợ cơ quan Nhà nước quản lý hoạt động và KSCL nghề nghiệp của KTV.

-   Bộ Tài chính đã công bố 38 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (CMKiT VN) phù hợp với Chuẩn mực kiểm toán quốc tế từ 1999 đến 2006 và gần đây nhất, tháng 12/2012, Bộ Tài chính đã công bố mới 37 CMKiT do Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) soạn thảo dựa trên các CMKiT mới nhất của quốc tế.

BGBFJU094609
 
Trong lĩnh vực kiểm toán Nhà nước, Quốc hội cũng thông qua Luật KTNN năm 2005, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của KTNN; trách nhiệm, quyền hạn của Tổng KTNN; tiêu chuẩn, trách nhiệm của KTV Nhà nước, các hoạt động chuyên môn và quy trình kiểm toán của KTNN; quyền và nghĩa vụ của đơn vị được kiểm toán… Theo đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Tổng Kiểm toán Nhà nước đã ban hành các Nghị quyết, Quyết định, Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Kiểm toán Nhà nước, ban hành Chuẩn mực Kiểm toán Nhà nước và quy trình nghiệp vụ kiểm toán…

Về tổ chức quản lý hoạt động kiểm toán: Ngoài Bộ Tài chính là cơ quan quản lý Nhà nước về kiểm toán độc lập như quản lý hoạt động kế toán, Việt Nam đã hình thành tổ chức nghề nghiệp về KTĐL là Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), hiện được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện đào tạo, cập nhật kiến thức cho KTV, bảo đảm mỗi năm người hành nghề học đủ từ 40 giờ trở lên; thực hiện soạn thảo CMKiT trình Bộ Tài chính ban hành; phối hợp với Bộ Tài chính tổ chức thi và cấp chứng chỉ KTV, tham gia KSCL; tham gia xây dựng cơ chế chính sách về kế toán, kiểm toán, hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế, phát triển và chăm sóc hội viên…

KTNN là cơ quan chuyên môn trực thuộc Quốc hội và do Quốc hội thành lập, chịu sự chỉ đạo và kiểm soát của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Tổng Kiểm toán trưởng được giao quản lý, điều hành và kiểm soát hoạt động của KTNN khu vực và toàn hệ thống.

Kiểm toán nội bộ thuộc DN do Bộ Tài chính hướng dẫn bằng văn bản và chỉ đạo, kiểm soát hoạt động. Kiểm toán nội bộ trong cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Nhà nước chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của Tổng KTNN.

Về phương pháp kiểm toán độc lập cũng như KTNN, về cơ bản đã áp dụng theo chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là KTĐL, từ 01/01/2014 sẽ áp dụng 37 CMKiT do Bộ Tài chính mới ban hành tháng 12/2012 phù hợp với CMKiT quốc tế mới nhất do Ủy ban Chuẩn mực Kiểm toán và Dịch vụ đảm bảo quốc tế (IAASB) công bố. Trình tự và phương pháp kiểm toán của KTNN vừa tuân thủ theo Luật KTNN, vừa áp dụng hệ thống CMKiT quốc tế do INTOSAI công bố.

BGBFJU094609
 
Về thực trạng hoạt động của KTĐL, sau 22 năm ra đời, chỉ có 2 công ty với 13 nhân viên làm việc, đến nay đã có 165 công ty kiểm toán độc lập trong đó có Big 4, 43 công ty lớn đủ điều kiện kiểm toán DN niêm yết trên thị trường chứng khoán, 28 công ty là Hãng thành viên các tổ chức quốc tế; hiện có 11.000 người làm việc, có 28.000 người được cấp chứng chỉ KTV Việt Nam, 500 người có chứng chỉ KTV quốc tế; mỗi năm cung cấp trên 20 loại dịch vụ cho 33.000 khách hàng, tổng doanh thu đạt 3.800 tỷ VNĐ, nộp ngân sách Nhà nước 587 tỷ VNĐ… BCTC của các DN, tổ chức, báo cáo quyết toán các dự án lớn bằng vốn Ngân sách hoặc dự án quốc tế đều đã được KTV xác nhận làm cơ sở duyệt quyết toán vốn đầu tư của Nhà nước, làm cơ sở công khai, minh bạch thông tin tài chính trên thị trường chứng khoán cũng như kêu gọi đầu tư quốc tế hoặc đầu tư ra nước ngoài.

 

 

EmailIn trang
Mở rộng đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng từ 1/1/2014
Những nội dung đáng chú ý của Luật thuế Giá trị gia tăng (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 1/1/2014
KIỂM TOÁN VIÊN CŨNG...LÚNG TÚNG VỚI CHÍNH SÁCH THUẾ
Mức phạt chậm nộp thuế cao gấp ba lãi ngân hàng
Sắp có chế độ kế toán mới với công ty chứng khoán
Phạt nộp chậm tiền phạt vi phạm hành chính 0,05%
Tuần lễ lắng nghe ý kiến người nộp thuế năm 2013
Gỡ vướng Thông tư số 128/2013/TT-BTC
Nghị định số 105/2013/NĐ-CP: Quy định xử phạt về kế toán, kiểm toán độc lập
Gia tăng tình trạng gian lận thuế: Kiểm tra là ra vi phạm

CHI NHÁNH MIỀN NAM - CTY TNHH KIỂM TOÁN & TƯ VẤN THĂNG LONG - TDK
Địa chỉ: C14 Quang Trung, Phường 11, Quận Gò Vấp, Tp.HCM.
Điện thoại: (08) 3589 7462 - 3589 7463 - 2216 4309 - Fax: (08) 3589 7464

Email: kiemtoantdk@gmail.com  -  thanglongtdks@gmail.com


Chi nhánh Lạng Sơn
: Tổ 2, khối 14, đường Bà Triệu, phường Hoàng Văn Thụ, Tp.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Điện thoại: (025) 3718 545 - Fax: (025)3716 264
Chi nhánh Đà Nẵng: 42 Trần Tống, Quận Thanh Khê, Tp.Đà Nẵng.
Điện thoại: (0511) 365 1818 - Fax: (0511) 365 1818
Chi nhánh Quận 1: 28 Đặng Tất, P.Tân Định, Quận 1, Tp.HCM.
Điện thoại: (08) 3848 0763 - Fax: (08) 3526 7187
Chi nhánh Đồng Nai: E180 Võ Thị Sáu, P.Thống Nhất, Tp. Biên Hòa.
Điện thoại: (0613) 949 185 - Fax: (0613) 918 767

CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN THĂNG LONG – T.D.K
Trụ sở chính: 2A Tầng 1 Sàn KT - TM và DV khu nhà ở CBCS CSTT - CA HN, Phường Yên Hòa, Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội
Điện thoại: 04. 44500668 - Fax: 04. 44500669
Email: thanglongkiemtoan@gmail.com
Copyright © 2014 by TDK. All rights reserved. Designed & Developed by EMSVN